Rất nhiều trường hợp người đại diện doanh nghiệp nợ thuế đã bị cấm xuất cảnh trong thời gian qua, sự việc nhanh chóng thu hút sự quan tâm của giới kinh doanh cũng như báo đài. Chính vì thế VACHI xin được chia sẻ một vài thông tin quan trọng về vấn đề này để quý doanh nghiệp có thể nắm được đầy đủ thông tin hơn.

Đại diện doanh nghiệp nợ thuế không được quyền xuất cảnh là đúng hay sai ??
Được biết phần lớn trường hợp người đại diện doanh nghiệp xúc cảnh như không được phép vì lý do Chi cục Thuế báo lại đây là doanh nghiệp còn nợ thuế. Không chỉ vậy những đại diện doanh nghiệp sau khi đã hoàn tất tiền nợ thuế cũng không được xuất cảnh với lý do vẫn chưa nhận được thông báo từ việc doanh nghiệp đã thanh toán hết nợ thuế.
Nhiều đại diện doanh nghiệp cho hay đã tốn rất nhiều thời gian cho việc phải đi xin phép giấy chứng nhận không còn nợ thuế cũng như bị thiệt hại rất nhiều về việc huỷ chuyến bay và hợp đồng ký kết cũng bị ảnh hưởng vì không thể xuất cảnh.
Trả lời cho vấn đề này Cơ quan thuế cho hay hiện nay vẫn đang áp dụng khoản 1c điều 47, khoản 1 điều 73 và khoản 1c điều 110 Luật doanh nghiệp để yêu cầu người đại diện doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về việc nợ thuế của doanh nghiệp mình.
Tuy nhiên, người đại diện chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp. Trong khi hiện nay vẫn còn nhiều chi cục thuế hiểu và áp dụng luật không đúng đối tượng khiến nhiều trường hợp phải chịu trách nhiệm một cách oan ức.
Những cũng theo khoản 4 điều 21 tại nghị định 136/2007 có quy định về việc công dân Việt Nam sẽ không được xuất cảnh nếu đang chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế cũng như những nghĩa vụ khác về tài chính.
Cũng có thể hiểu một cách đơn giản đó là doanh nghiệp nào đang nợ thuế đại diện doanh nghiệp đó không được xuất cảnh. Và thẩm quyền quyết định cho việc này là ở bộ trưởng cũng như chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chứ không thuộc nhiệm vụ của ngành thuế.

Bên cạnh đó theo Điều 53 Luật quản lý thuế và điều 40 trong nghị định 83/2013 có quy định về việc người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài thì trước tiên phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Vì cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sẽ có quyền dừng việc xuất cảnh của cá nhân đó nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế theo thông báo của cơ quan quản lý thuế.
Đồng thời cục Quản lý xuất nhập cảnh cũng cần phải có trách nhiệm trong việc dừng xuất cảnh của cá nhân khi có thông báo từ cơ quan thuế vì theo như quy định này thì thẩm quyền dừng xuất cảnh sẽ thuộc về cơ quan thuế.
Chính vì có sự khác nhau về quy định dừng xuất cảnh vì nợ thuế, nên khi áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc văn bản được ban hành sau nếu cùng cơ quan ban hành thì những trường như hiện nay sẽ phải áp dụng Luật quản lý thuế và nghị định 83/2013 chứ không nên áp dụng nghị định 136/2007 như cơ quan thuế đang làm.
Hơn nữa nếu như người xuất cảnh không phải để định cư thì các cơ quan không được quyền áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh trên đối với họ. VACHI cho rằng cá nhân xuất cảnh không phải định cư thì không cấm họ xuất cảnh, và chỉ được dừng xuất cảnh định cư khi họ chưa góp đủ vốn như đã cam kết với doanh nghiệp, đồng thời cơ quan thuế cũng phải chứng minh được việc nợ thuế của họ là do việc chưa góp đủ vốn.

Chính vì thế để có thể giải quyết được vấn đề này, cần có sự liên thông hơn nữa giữa cơ quan thuế và cơ quan xuất nhập cảnh về việc cấm xuất cảnh đại diện doanh nghiệp còn nợ thuế không nên áp dụng hình thức cấm xuất cảnh một cách thủ công như hiện nay gây ra nhiều thủ tục phiền phức cho người nộp thuế.
Hơn nữa, các cơ quan soạn thảo Luật quản lý thuế cũng nên làm rõ hơn những trường hợp bị cấm xuất cảnh để tránh gây ra phiền toái không đáng có cho người nộp thuế cũng như cho cơ quan thuế.
